Khi hạnh phúc không trọn vẹn như thuở ban đầu, người ta tìm cho mình muôn vàn lý do để chia tay. Nhiều người phụ nữ đặt ra câu hỏi rằng họ đã dành trọn tuổi thanh xuân của mình nhưng cuối cùng không đi được kết thúc viên mãn nhất, họ có được bồi thường tuổi thanh xuân khi ly hôn?

Đa phần mọi cuộc hôn nhân đều được xây dựng trên nền tảng tình yêu và sự tự nguyện từ hai bên nam và nữ. Nhưng cuộc sống có muôn vàn những biến cố ta không thể lường trước được. Khi hạnh phúc không trọn vẹn như thuở ban đầu, người ta tìm cho mình muôn vàn lý do để chia tay. Nhiều người phụ nữ đặt ra câu hỏi rằng họ đã dành trọn tuổi thanh xuân của mình nhưng cuối cùng không đi được kết thúc viên mãn nhất, họ có được bồi thường tuổi thanh xuân khi ly hôn? Và khi người phụ nữ đòi bồi thường tuổi thanh xuân thì nam giới họ có quyền được đền bù tuổi thanh xuân không?

Theo quy định của pháp luật, căn cứ để công nhận*thuận tình ly hôn*là “có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.” (*Luật Hôn nhân và gia đình 2014)

Xét dưới góc độ truyền thống, từ xưa đến nay người phụ nữ luôn là người thiệt thòi hơn khi ly hôn. Sau ly hôn, người phụ nữ gặp khó khăn hơn để bước vào cuộc sống mới và mối quan hệ mới. Ở Việt Nam hiện nay chưa có quy định pháp luật nào về việc phải bồi thường tuổi thanh xuân khi ly hôn, phần lớn dựa vào sự thỏa thuận của 2 bên về phân chia tài sản, bù đắp những tổn thương mất mát mà cả 2 bên đã gặp phải.

Về mặt nguyên tắc, để có một mức bồi thường thiệt hại thì cần căn cứ vào mức độ lỗi cũng như thiệt hại mà hành vi vi phạm pháp luật đã gây ra. Tuy nhiên, khi hai người kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, không bị ai ngăn cản hay ép buộc nên việc cho rằng lấy chồng hay lấy vợ dẫn đến tổn thất về tuổi thanh xuân thì không đủ căn cứ cả về mặt pháp lý lẫn thực tế. Bởi vậy , theo nguyên tắc ghi nhận trong*Luật Hôn nhân và gia đình 2014*chỉ quy định việc phân chia tài sản hợp tình hợp lý “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.” (Luật Hôn nhân và gia đình 2014)

Theo đó tài sản chung của hai vợ chồng sẽ được chia đôi, ngoài ra Tòa án còn dựa vào các yếu tố sau để phân định khối tài sản mà mỗi bên nhận được:

- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng: là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong *khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung: là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất,*kinh*doanh và nghề nghiệp để*các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập:*là việc*chia tài sản chung của vợ chồng*phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

- Lỗi của mỗi bên trong vi*phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng:*là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Đối chiếu quy định được trích dẫn ở trên, dù không có cơ sở để đòi bồi thường tuổi thanh xuân, nhưng nếu có những chứng cứ chứng minh được người chồng có hành vi bạo lực, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm khiến vợ bị ảnh hưởng tâm lý hoặc người chồng không chung thủy, không quan tâm chăm sóc con, người chồng phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất do mình gây ra. Trong trường hợp người phụ nữ chứng minh được có đóng góp nhiều hơn trong việc tạo lập khối tài sản chung cũng được tòa xem xét phân chia được hưởng khối tài sản lớn hơn, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người phụ nữ.